Mục Tiêu Trình Bày:

· Sau khi xem một bài giảng video ngắn người tham gia có thể định nghĩa thế nào là thành kiến chủng tộc theo định nghĩa trong luật pháp Massachusetts và mô tả việc áp dụng thực tiễn các định nghĩa được cộng nhân trên toàn quốc.

· Sau khi xem xét ngắn gọn một nghiên cứu trường hợp, người tham gia có thể mô tả các biện pháp thành kiến chủng tộc thì không hiệu quả như thế nào trong việc đánh giá và ngăn cản hành phi tội phạm.

· Sau khi xem một bài giảng video ngắn và làm một bài kiểm tra về ý thức thành kiến không bắt buộc, người tham gia sẽ có thể xác định thành kiến riêng của chính mình và liệt kê ra các chiến lược để hạn chế khuynh hướng của thành kiến này trong việc ra quyết định và hành động của họ. Có thể tìm thấy bài kiểm tra trực tuyến bằng cách truy cập https://implicit.Harvard.edu/implicit/demo .

I. Định Nghĩa Thành Kiến Chủng Tộc

Có một số định nghĩa về thành kiến chủng tộc được phát triển trong thập niên vừa qua. Bốn định nghĩa trong số các định nghĩa này được trình bày ở đây với ý thức rằng các nhân viên cảnh sát Massachusetts được định nghĩa thứ tư chi phối.

A. Thành kiến chủng tộc có thể được định nghĩa như là bất kỳ một hành động thi hành luật pháp nào mà không dựa vào hành vi của một cá nhân hay thông tin tình nghi cụ thể có được từ một nguồn đáng tin cậy, nhưng lại dựa vào việc sử dụng chủ quan các đặc tính sau: sắc tộc, chủng tộc và nguồn gốc quốc gia.

B. Cách định nghĩa hẹp về thành kiến chủng tộc cho rằng nếu sắc tộc hay chủng tộc được sử dụng là yếu tố duy nhất để khởi phát việc tiếp xúc với một cá nhân, thì lúc đó thành kiến chủng tộc xảy ra. Nói cách khác, nếu nhân viên thực thi pháp luật chặn lại một người chỉ căn cứ vào các đặc tính như là chủng tộc mà không phải do hành vi sai trái biểu hiện, thì lúc đó nhân viên này đã có thành kiến chủng tộc.

C. Cách định nghĩa rộng về thành kiến chủng tộc cho rằng nếu sắc tộc hay chủng tộc được sử dụng là một trong các yếu tố để khởi phát việc tiếp xúc với một cá nhân, thì lúc đó thành kiến chủng tộc xảy ra. Nói cách khác, nếu nhân viên thực thi pháp luật ngăn chặn một người chỉ căn cứ vào các đặc tính như là chủng tộc cọng thêm biểu hiện của hành vi sai trái, thì lúc đó nhân viên này đã có thành kiến chủng tộc.

D. Luật pháp Massachusetts đã định nghĩa thành kiến chủng tộc và giới tính là "hành động giữ lại một người bị tình nghi căn cứ vào một loạt nhiều tiêu chí chung chung gây ra sự ngờ vực đối với toàn bộ một lớp người mà không phải là sự ngờ vực riêng biệt đối với một người cụ thể đang bị giữ lại."

II. Khi một nhân viên cảnh sát có các thông tin xác thực liên quan đến một sắc tộc hay giới tính của một người bị tình nghi chưa biết, có thể dùng thông tin này để xác định người bị tình nghi đó. Trường hợp này được gọi là " BOLO" hay "be on the lookout"(căn cứ vào bên ngoài).

III. Thành Kiến Chủng Tộc Không Hiệu Quả Như Thế Nào?

A. Mục đích của chủ đề này là thảo luận liệu xem thành kiến chủng tộc có là một cách hiệu quả để đánh giá và ngăn chặn hành vi tội phạm không. Các cơ quan thực thi pháp luật chú trọng đến các nguồn thông tin dựa vào quan điểm sai trái là một nhóm công dân nào đó thường có khả năng tham gia hoạt động tội phạm căn cứ vào sắc tộc hay chủng tộc thì không sử dụng nguồn thông tin hiệu quả. Nếu một nhân viên cảnh sát tập trung chú ý vào một nhóm người do niềm tin sai lầm, thì các tội phạm không thuộc nhóm người đó có thể tồn tại mà không bị phát hiện.

B. Tỉ lệ bắt trúng là tỉ lệ khám xét để bắt hàng phi pháp.



Đồ thị ở trên cho thấy phần trăm các lần " bắt trúng" mỗi khi khám xét các tài xế người da trắng, da đen, và người Latino (gốc nam Mỹ). Xin chú ý là đồ thị này không cho thấy dữ liệu trực tiếp về việc liệu thành kiến có xảy ra trong mỗi lần khám xét hay không. Đồ thị cũng không cho thấy bằng chứng trực tiếp tỉ lệ phần trăm người mang ma tuý.

C. Cơ quan thuế quan (bây giờ là Cơ Quan Chấp Chánh Di Trú và Hải Quan Mỹ), hay ICE chịu trách nhiệm cho các nổ lực bài trừ ma tuý ở các phi trường và cử khẩu vào Hoa Kỳ khác trên đất nước chúng ta. Cơ quan thuế quan đã tiến hành một nghiên cứu so sánh những lần khám xét và " tỉ lệ bắt trúng" trong thời gian từ 1998 và 2000. Vào năm 1998, thành kiến dựa vào chủng tộc và sắc tộc thường được sử dụng. Vào năm 2000, ở Hoa kỳ Cơ quan thuế quan sử dụng kỹ thuật dựa vào hành vi và triển khai cho nhân viên thuế quan sử dụng kỹ thuật này

Nghiên cứu này là do có nhiều lời phàn nàn từ các cộng đồng thiểu số, đặc biệt là phụ nữ thiểu số về số lượng khám xét không cân xứng.






Việc thu thập dữ liệu là một phần của việc đánh giá các phương thức và biện pháp của hải quan. Kết quả (1998) cho thấy:

1. Người thiểu số chiếm phần trăm đi lại thấp hơn người không phải thiểu số.

2. 43% những người bị khám xét là người Mỹ gốc phi hay người Hispanic (Nam Mỹ).

3. Số phần trăm những người thiểu số bị khám xét cao hơn người da trắng một cách không cân xứng.

4. Phần trăm những người thiểu số đem hàng phi pháp ( bị bắt trúng) thấp hơn những người da trắng (6.7% da trắng, 6.3 % người Mỹ gốc Phi., 2.8% người Hispanic).

Hải quan. Hoa kỳ thực hiện các cải cách sau từ năm 1998.

· Nhân viên được đào tạo để thực khám xét dựa vào các yếu tố hành vi hơn là các thành kiến căn cứ vào các đặc tính thể chất như sắc tộc/chủng tộc.

· Tăng cường kiểm soát có hướng dẫn. Trước năm 1998, nhân viên hải quan cấp thấp nhất cũng thẩm quyền thực hiện được khám xét có tính xâm phạm nhất. Sau các cải cách, nhân viên hải quan được yêu cầu phải được chấp thuận của cấp trên để thực hiện các khám xét có tính xâm phạm.

· Tập trung mục tiêu vào các quốc mà được biết là ma tuý xuất phát từ đó. Chú ý và ưu tiên nhiều hơn đến các chuyến bay từ các quốc gia mà được biết ma tuý đến từ đó (như các chuyến bay từ vùng Caribbe và Nam Mỹ).

Sau các cải cách, thống kê cho thấy:

· Giảm 75% vụ khám xét

· Tăng 226% "bắt trúng"

· Giảm 50% vụ khám xét có tính xâm phạm

· tăng 5% vụ bắt giữ

· Hàng phi pháp tìm thấy ở 54% người đi lại được chọn, tăng 25% trong năm 1999

· Khám xét cơ thể giảm 59%, tuy nhiên tăng hơn 18% vụ bắt giữ

Nghiên cứu này cho thấy tính không hiệu quả của thành kiến chủng tộc và ủng hộ cho tính hiệu quả của biện pháp dựa vào các hành vi cụ thể và các đặc tính quan trọng. Nhưng có nhiều lý do quan trọng khác giải thích tại sao các biện pháp thi hành pháp luật dựa theo thành kiến chủng tộc là biện pháp không hiệu quả, có thể đem lại nhiều nguy cơ, như khiến cho các nhóm người không bị thành kiến ít bị dò xét hơn.

IV. Thành Kiến Vô Thức

Nhiều người trong xã hội chúng ta có những thành kiến vô thức về các nhóm người khác. Điều này có nghĩa

A. Đây không phải là điều mà người đó cảm nhận được.

B. Đây là một hiện tượng chung trong xã hội chúng ta.

C. Thông thường mà nói, cần nên ý thức về một thành kiến như vậy nếu nó hiện diện vì ý thức về điều đó sẽ cho phép các nhân viên cảnh sát đánh giá một nhóm người một cách hiệu quả.

D. Có một bài kiểm tra có thể cho quý vị biết liệu quý vị có thành kiến với một số nhóm người hay tầng lớp nào đó không xét về chủng tộc, sắc tộc hay tuổi tác.

E. Trong bài huấn luyện quý vị nên kiểm tra thành kiến của mình bằng cách truy cập https://implicit.Harvard.edu/implicit/demo/

V. Luật liên bang nào ở Massachusetts kiểm soát nhân viên cảnh sát về thành kiến chủng tộc?

A. Commonwealth v. Lora (2008) là luật chi phối ở Massachusetts.

B. Arizona v.Gant (2009) là Toà án Tối cao mới đây có thể thay đổi cách hiểu luật liên bang và phù hợp với luật Massachusetts về khám xét và bắt giữ. Phần này gồm có bàn luận về hai trường hợp quan trọng trong bối cảnh luật pháp thành kiến chủng tộc liên quan đến công tác cảnh sát ở Massachusetts.

C. Phần này sẽ có thảo luận về hai trường hợp quan trọng này trong khuôn khổ luật pháp thành kiến chủng tộc đối với quyền thực thi cảnh sát Massachusetts và cung cấp kiến thức sâu rộng cho thành viên cộng đồng về quyền lợi của họ.