Mục Tiêu Trình Bày:

  • Người tham gia có thể giải thích các chương trình thu thập số liệu các vụ chặn xe, số liệu vụ chặn xe, số liệu thang chuẩn, và các bản điều tra thang chuẩn.
  • Người tham gia có thể liệt kê ra ít nhất là 4 yếu tố quan trọng của chương trình thu thập số liệu toàn thể.
  • Người tham gia có thể xác định những điểm có lợi và bất lợi liên quan đến việc sử dụng các số liệu thang chuẩn bên ngoài khác nhau.
  • Người tham gia có thể liệt kê ra những yếu tố quan trọng được sử dụng để thực hiện phân tích nhân viên cảnh sát ở trong cùng trường hợp sử dụng các thang chuẩn bên ngoài.

Commonwealth v. Lora, Tối Cao Pháp Viện Massachusetts kết luận (1) " rằng bằng chứng về thành kiến chủng tộc là thích hợp để xác định liệu xem một vụ chặn xe có phải là thành quả của việc thực thi pháp luật vi phạm quyền bảo đảm về bảo vệ bình đẳng của Công Bố Nhân Quyền Massachusetts và (2) "bằng chứng thống kê cho thấy sự đối sử phân biệt một số người dựa vào chủng tộc có thể được đưa ra để đáp ứng gánh nặng của bị cáo để trình bày đủ chứng cứ về sự phân biệt không được cho phép nhằm chuyển gánh nặng cho Tiểu bang để đưa ra một lời giải thích không có thành kiến chủng tộc về một vụ chặn lại như thế. Hơn nữa Tối cao Pháp viện còn hướng dẫn cách thức mà số liệu được thu thập và phân tích. Đây cũng là mốc để chúng ta có thể thảo luận về thu thập và phân tích dữ liệu.

I. Số Liệu Phải Được Thu Thập

Tối cao Pháp viện hướng dẫn rằng New Jersey v. Soto là một mô hình thu thập số liệu trong trường hợp xác định có thành kiến chủng tộc. Trong trường hợp này số liệu về tất cả các vụ chặn xe bởi sở cảnh sát, không chỉ những những vụ có trát đòi hầu toà, đều được thu thập lại. Thu thập số liệu tất cả các vụ chặn lại là một mô hình tốt hơn trát đòi hầu toà bởi vì nó cho thấy một bức tranh toàn bộ của hoạt động cảnh sát và không mang tính mơ hồ về chủng tộc/sắc tộc cho những người lái xe bị chặn nhưng không được trát hầu toà. Đối với các vụ chặn xe số liệu phải được thu thập là: (1) ngày, giờ, địa điểm chính xác của vụ chặn; (2) sự vi phạm khiến cảnh sát chặn lại; (3) chủng tộc/ sắc tộc, giới tính, tuổi tác của người lái xe; (4) hoạt động sau khi chặn xe, phải có yêu cầu rời khỏi xe, khám xét, quyền pháp lý và lý do khám xét, cũng như kết quả của khám xét; và (5) liệu việc chặn lại có dẫn đến trát hầu toà không.

A. Lợi ích của việc thu thấp số liệu các vụ chặn xe so với thu thập các trát đòi hầu toà.

  • Số liệu từ tất cả các vụ chặn xe bảo đảm là mọi hoạt động của cảnh sát dẫn đến một vụ chặn xe lại đều có để phân tích. Khi tất cả các vụ chặn xe được thu thập, thì hiểu được liệu phòng cảnh sát có nhằm vào một hay nhiều người thiểu số không, cả cảnh sát và công dân biết rằng mọi vụ chặn xe đều được tính.
  • Chỉ thu thập số liệu trát đòi hầu toà thì tiện lợi hơn cho cảnh sát, đặc biệt là ở những sở cảnh sát không cần giấy phạt cảnh cáo cho những người lái xe mà một nhân viên cảnh sát quyết định không phạt. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy có đến hai phần ba các vụ chặn xe không bị trát đòi hầu toà.

B. Các bất lợi của việc thu thập số liệu các vụ chặn lại hay thu thập các trát đòi hầu toà.

  • Thu thập số liệu tất cả các vụ chặn xe thì mất nhiều thời gian hơn và đòi hỏi nhiều việc làm hơn và có thể nguy hiểm hơn cho cảnh sát. Một khi quy định về thu thập số liệu tất cả các vụ chặn lại xe được ban hành thì có sự giảm sút về số lượng các vụ chặn xe mà các nhân viên cảnh sát thực hiện.
  • Chỉ khi số liệu các trát đòi hầu toà được thu thập, nếu số liệu cho thấy hoạt động không mang tính thành kiến chủng tộc, thì phân tích số liệu dẫn đến cáo buộc rằng các vụ chặn xe không được ghi lại là của các công dân thiểu số.

II. Số Liệu Phải Được Thu Thập Một Cách Cẩn Trọng Và Chính Xác Tuyệt Đối

Số liệu có thể được ghi lại trên biểu mẫu giấy, như trong trát đòi hầu toà, hay ghi lại bằng máy điện toán thông qua cổng số liệu hay thiết bị cầm tay. Mỗi vụ chặn xe phải ghi lại bằng lái xe của người lái xe, giới tính và tuổi của người lái xe có ở bằng lái xe. Chủng tộc/sắc tộc phải là cảm nhận của nhân viên cảnh sát, vì đôi lúc hỏi người lái xe về thông tin đó thì thật phù phiếm. Tương tự, trong một tình huống mà người lái xe không có bằng lái, nhân viên cảnh sát phải cảm nhận về tuổi tác và giới tính.

III. Số Liệu về Khám Xét Phải Là Những Khám Xét Tuỳ Tiện

Bất kỳ vụ khám xét nào được phòng cảnh sát uỷ thác, như những khám xét để bắt giữ và khám xe, không được tính vào phân tích. Các khám xét được chấp thuật là khám xét tuỳ tiện nhất, theo sau là khám quần áo ("Terry pat/frisks") và khám xét khi đã có cơ sở để bắt giữ.

IV. Phần Tính Số Liệu Cho Thang Chuẩn

A. Một khi số liệu vụ chặn xe (trác đòi hầu toà) đã được thu thập, thì nó phải được xem xét trên tinh thần chủng tộc/sắc tộc, giới tính và tuổi tác của người lái xe (và những tài xế vi phạm luật). Có nhiều thang chuẩn đã được sử dụng.

  • Số liệu thống kê không được điều chỉnh (hay được điều chỉnh tối thiểu) đã được sử dụng thường xuyên nhất và đây là số liệu tệ hại nhất để đo lường các vụ chặn lại. Số liệu thống kê đôi lúc xem nhẹ và đôi lúc thì quá chú trọng đến sắc tộc/chủng tộc, tuổi tác và giới tính của người đi trên đường. Sự khác biệt thì đôi lúc quá nhỏ và đôi lúc quá lớn. Số liệu thống kê không nên được sử dụng làm thang chuẩn.
  • Số liệu Những người Lái Xe được sử dụng làm thang chuẩn ở những vùng thành thị và phụ cận và số liệu quan sát này được thu thập cho trát đòi hầu toà trên các xa lộ bởi Nghiên Cứu của Sở Cảnh Sát Tiểu Bang Massachusetts vào năm 2004. Số liệu Những người Lái Xe được lập bởi thống kê điều chỉnh sử dụng một số mặc nhận (chẳng hạn, "ép buộc" những người lái ra khỏi quyền tài phán và lôi kéo những người lái xe đến quyền tài phán). Nhiều đô thị cho rằng Thống Kê Số Liệu Những Người Lái Xe ở địa phương họ không chính xác. Hiện tại không rõ là Tối Cao Pháp Viện có quan điểm ra sao về việc sử dụng thống kê này làm thang chuẩn.
  • Các thang chuẩn quan sát về số lượng người lái xe được lập nên bởi mẫu khoa học của số xe cộ trên đường và quan sát số lượng người lái xe. Điều này có nghĩa là giao thông được quan sát trong một khu vực cụ thể nào đó hay trên những con đường cụ thể nào đó một cách ngẫu nhiên ở những thời điểm và những ngày được lựa chọn. Sự hình thành chủng tộc/ sắc tộc của giao thông (hay những ai vi phạm luật giao thông) được so sánh với những vụ chặn xe trên những con đường đó hay những khu vực cụ thể đó. Kiểu quan sát này đã được sử dụng trong các phiên xử ở New Jersey, Maryland và Arizona và được Tối Cáo Pháp Viện Massachusetts chấp thuận như là một phương pháp hợp lý cho thang chuẩn.

B. Cho dù thang chuẩn nào được sử dụng, điều quan trọng là các vụ chặn xe (trác đòi hầu toà) phải được so sánh với thành tố chủng tộc/sắc tộc, giới tính và tuổi tác trên dòng giao thông mà nhân viên cảnh sát nhận thấy anh ta/cô ta phải quyết định để dừng lại. Từ xuất phát này, phân tích có thể được thực hiện.

  • Các vụ chặn xe của nhân viên cảnh sát được so sánh với dòng giao thông ở nơi mà có vụ chặn xe lại. Những nhân viên cảnh sát làm ở một nơi tập trung nhiều những người lái xe thiểu số không được so sánh với nơi không có sự tập trung cao này. Tương tự, các vụ chặn xe mà nhân viên cảnh sát chọn những người lái xe từ một dòng xe cộ không tập trung những người thiểu số được so sánh với dòng xe cộ đó.
  • Các phân tích phải được thực hiện ở những nơi đặc biệt so sánh với các thang chuẩn với số liệu những vụ chặn xe (trác đòi hầu toà) cho những nơi đó. Các phân tích cụ thể phải được sử dụng một cách thận trọng để đảm bảo rằng phân tích được sử dụng đúng.

V. Phân Tích Đối Với Những Vụ Khám Xét Thì Không Đáng Tin Cậy Như Được Thấy

Mặc dầu một vài người đã lập luận rằng một so sánh đơn giản về chủng tộc/ sắc tộc những ai bị khám xét có thể làm thang chuẩn đối với những vụ khám xét, giải thích này không đủ cơ sở. Đầu tiên phải xem xét loại khám xét nào nên được phân tích. Ở nhiều sở cảnh sát có nhiều khám xét bắt buộc. Nói chung, đây là các vụ khám xét để bắt giữ và khám xe. Vì những khám xét này không phải là tuỳ tiện chúng không nên được phân tích hay phân tích thành một phạm trù đặc biệt. Các khám xét tuỳ tiện thì có ích hơn để xác định là nhân viên cảnh sát có nhằm vào một nhóm người nào đó không. Hơn nữa, có ít nhất 4 sự xem xét đặc biệt cho việc phân tích các vụ khám xét, và có thể nhiều hơn nữa xét về các điểm cụ thể của sở cảnh sát đang được xét đến.

  • Vụ khám xét được thực hiện ở đâu và đâu là thống kê nhân khẩu học của giao thông ở địa điểm này?
  • Có bao nhiêu nhân viên cảnh sát ở nơi khám xét?
  • Có phải nhân viên cảnh sát đang phục vụ trong một đơn vị đặc biệt lúc khám xét không?
  • Nhân viên cảnh sát có biết người lái xe đang được tạm tha hay đang bị án treo không?

Các đặc điểm cụ thể của từng trường hợp phải được tính đến và phân tích lùi lại nhiều chỗ có các chi tiết trên thường là tốt nhất.

IV. Phân Tích Số Liệu Cho Thang Chuẩn Nội Bộ

Các thang chuẩn được sử dụng để so sách các lần chặn xe(trác đòi hầu toà) của những nhân viên cảnh sát với nhân viên khác ở trong cùng trường hợp trong sở.

A. Kiểu phân tích này rất có ích trong việc xác định nhân viên nào, nếu có, là "cá biệt" xét về chặn nhiều hay ít người thiểu số hơn những nhân viên khác trong sở. CHÚ Ý: Người cá biệt là những người nằm trong thái cực (cao hoặc thấp) trong tỉ lệ bình thường. Điều có ý nghĩa thực tiễn trong tình huống của chúng ta là những nhân viên này chặn quá nhiều hay quá ít người thiểu số.

  • Phân tích này phải được thực hiện với sự thận trọng để bảo đảm là những nhân viên cảnh sát ở trong cùng trường hợp đối với dòng giao thông mà họ chặn người lái xe lại.
  • Điều này gồm có, ít nhất, là cùng nơi tuần tra, cùng ca trực, và cùng ngày tuần tra, vì những chi tiết này có thể ảnh hưởng đến chủng tộc/sắc tộc, giới tính và tuổi tác của người lái xe.
  • Một khi các nhân viên cảnh sát ở trong cùng trường hợp được xác định, thì có thể tiến hành các so sánh và số liệu được sở sử dụng và các nhân viên đánh giá các nhân viên cảnh sát khác. Các số liệu này có lợi nhất trong tình huống của hệ thống cảnh báo sớm.

B. Các thang chuẩn nội bộ tự nó không thể xác định liệu một văn phòng có nhắm vào các người thiểu số hay không vì nhân viên cảnh sát này được so sánh với nhân viên cảnh sát khác trong cùng một sở. Tuy nhiên, so sánh những nhân viên cảnh sat trong cùng một trường hợp ở những vụ chặn xe phải được xem là một phần quan trọng cho một hệ thống cảnh báo sớm.